Sáng 21/8, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị nghe báo cáo tình hình triển khai Kế hoạch số 170/KH-UBND ngày 20/5/2026 về thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chiến lược phát triển kinh tế biển tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đồng thời triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Chương trình hành động số 34-CTr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Đồng chí Trần Anh Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị, cùng dự có lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị liên quan.

Ảnh: Toàn cảnh Hội nghị
Theo báo cáo, việc triển khai Kế hoạch số 170/KH-UBND đang được các sở, ngành và các xã ven biển thực hiện tương đối đồng bộ, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm như hoàn thiện quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, du lịch biển, đồng thời tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Ảnh: Lãnh đạo Sở Xây dựng phát biểu tại Hội nghị
Một trong những nhiệm vụ được tỉnh xác định có ý nghĩa nền tảng là đẩy nhanh hoàn thiện quy hoạch và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng vùng ven biển. Hồ sơ Quy hoạch chung Khu kinh tế Ninh Cơ đã được UBND tỉnh trình Bộ Xây dựng thẩm định. Đây được xác định là cơ sở quan trọng để tỉnh tổ chức không gian phát triển, thu hút đầu tư và hình thành các động lực tăng trưởng mới tại khu vực ven biển. Cùng với đó, tỉnh đang tập trung đầu tư, hoàn thiện hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ven biển, tạo mặt bằng và điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án thứ cấp, nhất là trong các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics và các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao.

Ảnh: Lãnh đạo Ban quản lý Khu kinh tế và các Khu công nghiệp phát biểu tại Hội nghị
Tại Khu công nghiệp dệt may Rạng Đông, tổng khối lượng đầu tư xây dựng đã hoàn thành khoảng 70%; trong đó, san lấp đạt khoảng 90%, các công trình giao thông, điện chiếu sáng đạt khoảng 60%. Đến ngày 18/8/2026, có 7 dự án đầu tư thứ cấp đăng ký đầu tư, diện tích đất đã cho thuê khoảng 90 ha, chiếm 27,6% diện tích đất thương phẩm. Khu công nghiệp Hải Long (VSIP) đã khởi công từ tháng 2/2026, đang triển khai san lấp mặt bằng, thi công các tuyến giao thông chính và các hạng mục hạ tầng kỹ thuật. Một số khu công nghiệp khác như Minh Châu, Lạc Xuân, Thịnh Tân, Kim Sơn, Thanh Hương cũng đang được triển khai các thủ tục quy hoạch, đầu tư và chuẩn bị thu hút nhà đầu tư hạ tầng. Theo định hướng trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho phát triển Khu kinh tế Ninh Cơ, hệ thống giao thông kết nối, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cảng biển và logistics; đồng thời tăng cường huy động nguồn lực ngoài ngân sách, khuyến khích xã hội hóa, đa dạng hóa các nguồn vốn hợp pháp để đầu tư hạ tầng kinh tế biển.
Cùng với phát triển công nghiệp và hạ tầng, tỉnh xác định bảo vệ tài nguyên, môi trường và hệ sinh thái biển là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển. Hiện toàn tỉnh có 3.912,76 ha rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển, trong đó diện tích có rừng đạt 3.494,89 ha. Công tác bảo vệ rừng, trồng rừng phòng hộ tiếp tục được tăng cường; đến nay đã hoàn thành trồng 58,76/74 ha rừng phòng hộ từ nguồn trồng rừng thay thế. Công tác quản lý tổng hợp vùng bờ và quan trắc môi trường biển được triển khai thường xuyên. Tỉnh duy trì quan trắc tại 23 điểm nước biển và 11 điểm trầm tích; đến hết tháng 7/2026 đã thực hiện 69 mẫu nước biển và 11 mẫu trầm tích. Các nhiệm vụ tuyên truyền bảo vệ môi trường biển, giảm rác thải nhựa, bảo vệ hệ sinh thái biển được tăng cường. Tỉnh phối hợp triển khai mô hình tàu cá thu gom rác thải đưa về bờ và tập huấn ứng dụng viễn thám trong giám sát rác thải đại dương. Đối với lĩnh vực thủy sản, hoạt động nuôi trồng, khai thác và dịch vụ hậu cần nghề cá tiếp tục được duy trì theo hướng bền vững. Đến ngày 14/8/2026, tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh ước đạt 199.905 tấn, bằng 63,34% kế hoạch năm; trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 151.975 tấn, khai thác đạt 47.930 tấn. Tỉnh đồng thời tăng cường quản lý tàu cá, giám sát hành trình và chống khai thác IUU. Đến nay, 617/620 tàu cá đã lắp thiết bị giám sát hành trình, đạt 99,52%; công tác kiểm tra, kiểm soát và truy xuất nguồn gốc thủy sản tiếp tục được thực hiện thường xuyên.

Ảnh: Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại Hội nghị
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai Kế hoạch số 170/KH-UBND vẫn còn một số khó khăn, nhất là trong công tác quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, xây dựng, môi trường và phòng cháy, chữa cháy. Nhu cầu nguồn lực cho phát triển hạ tầng ven biển rất lớn, trong khi khả năng cân đối và huy động các nguồn lực ngoài ngân sách còn hạn chế. Một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp ven biển còn phụ thuộc vào tiến độ giải phóng mặt bằng, hoàn thiện thủ tục pháp lý và thu hút nhà đầu tư hạ tầng. Những vấn đề này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ hơn giữa các sở, ngành, địa phương và nhà đầu tư.

Ảnh: Đồng chí Trần Anh Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu kết luận tại hội nghị.
Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Trần Anh Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, mở ra không gian và dư địa tăng trưởng mới cho tỉnh. Việc triển khai phải bám sát Nghị quyết số 20-NQ/TW, Chương trình hành động số 34-CTr/TW, Nghị quyết số 16-NQ/TU và Kế hoạch số 170/KH-UBND; đồng thời phải được cụ thể hóa bằng lộ trình, nhiệm vụ, dự án và sản phẩm rõ ràng. Đồng chí yêu cầu các sở, ngành, địa phương tiếp tục hoàn thiện quy hoạch; ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông kết nối, khu công nghiệp, cảng biển, logistics; tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ các dự án động lực. Quá trình đầu tư hạ tầng phải gắn với quản lý chặt chẽ đất đai, khai thác hiệu quả quỹ đất, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tránh thất thoát, lãng phí. Đồng thời, cần lựa chọn ngành nghề, dự án phù hợp với từng khu vực, hài hòa giữa phát triển công nghiệp với không gian du lịch, thương mại, dịch vụ và bảo vệ môi trường sinh thái. Công tác thu hút đầu tư phải được thực hiện chuyên nghiệp, thực chất; chủ động hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết thủ tục, giảm thời gian chuẩn bị dự án nhưng không buông lỏng quản lý nhà nước. Đối với các đề xuất lấn biển và phát triển không gian ven biển, đồng chí yêu cầu đánh giá kỹ hiệu quả kinh tế, tác động môi trường, khả năng huy động nguồn lực và các nguy cơ do thiên tai, biến đổi khí hậu; đồng thời rà soát hệ thống đê biển, xây dựng phương án phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn sát thực tế.
Bài viết: Trung Đức; Ảnh: Lương Hậu
Phòng Xúc tiến đầu tư
